2 thành phố VN được phong thần

March 22, 2009

2 thành phố VN được phong thần


Vừa rồi, báo BusinessWeek ra 1 danh sách các thành phố nhất để làm việc

Saigon và Hà Nội nằm trong danh sách đó

Sau 34 năm xâm chiếm miền Nam, trong các nước Châu Á, chỉ có Jakarta là tệ hơn Sgn và HN

34 năm tiến bộ :b utt_h::but t_h:

The World’s Worst Places to Work

1 of 22 next slide previous slide

Getty Images

By Bruce Einhorn
Hardship Posts

These days few workers feel confident enough to make demands of their employers. With the global economy enduring the worst downturn in decades, lots of workers in the U.S. and other countries are happy to have a job, any job. There are places, though, where it’s so tough to live that employees can still get companies to pay them extra just for agreeing to work there. For decades, multinationals looking to expand into inhospitable places in the developing world have offered managers bonuses for accepting “hardship posts.” While some companies are trying to cut costs by hiring managers locally instead of sending expatriates, many multinationals continue to pay top workers extra for agreeing to work in difficult locations.

When trying to figure out how much hardship pay they need to offer, companies turn to consultants like New York-based human resources company ORC Worldwide. The firm recently compiled for BusinessWeek a ranking of 55 cities (the top 20 of which make up this slide show) outside the U.S., Canada, and Western Europe that might qualify as hardship posts based on a set of criteria that includes levels of pollution, disease, political violence, and availability of goods and services. The list doesn’t include some cities that are so obviously challenging—because of war or international isolation—that they’re in another league when it comes to hardship posts. For that reason, you won’t find Baghdad or Harare or Pyongyang on ORC’s list. You will find, though, cities in Africa, Southeast Asia, India, China, Central Asia, and the Middle East. The worst of the lot? Lagos, Nigeria.

Getty Images

No. 9 Ho Chi Minh City, Vietnam

Overall Grade: High Risk Location
Major Problems: Disease & Sanitation
Other Problems: Climate, Pollution, Medical Facilities, Infrastructure, Crime

Expatriates assigned to work in Saigon can find the city’s heat and humidity oppressive. Other challenges include issues typical to many tropical cities in the developing world, such as threat of disease. “Also making life here less than ideal are pollution, limited medical facilities, inadequate infrastructure, dangerous traffic and crime,” writes ORC.

Getty Images

No. 11 Hanoi, Vietnam

Overall Grade: High Risk Location
Major Problem: Disease & Sanitation
Other Problems: Medical Facilities, Infrastructure, Political & Social Environment, Culture & Recreation

The Vietnamese capital has a cooler, more comfortable climate than Ho Chi Minh City, and Hanoi’s crime problem is also not as severe. On the other hand, Hanoi is the capital of one of the few remaining Communist countries. “Because Hanoi is the seat of government,” according to ORC, “any stress related to official policy is heightened here.”

Chiến lược hải quân và ý đồ của Trung Quốc trên Biển Đông

March 19, 2009
Chiến lược hải quân và ý đồ của Trung Quốc trên Biển Đông
Ngô Vĩnh Long
Đăng/Published on 12.03.09

 
“…Trung Quốc cho rằng đã đến lúc cho thế giới biết Trung Quốc không còn là một đại cường khu vực mà là một siêu cường…”

“…Trung Quốc cho rằng đã đến lúc cho thế giới biết Trung Quốc không còn là một đại cường khu vực mà là một siêu cường…”

Hải quân Trung Quốc, còn gọi là “Giải phóng quân Hải quân”, là một bộ phận của Quân đội Nhân dân Trung Quốc, gồm có 5 nhánh: binh đội tàu ngầm, binh đội tàu mặt nước, binh đội không quân, binh đội hải quân đánh bộ và binh đội “ngạn phòng”. Ngoài ra, lực lượng hải quân Trung Quốc còn có 10 học viện và đại học trực thuộc, nhiều viện nghiên cứu, các binh đoàn bộ đội chuyên môn, và các cục chính trị, cục hậu cần, cục kỹ thuật, và các đơn vị bảo đảm phục vụ và sửa chữa. Lực lượng hải quân được phân chia thành ba vùng : Bắc Hải Hạm Đội, Đông Hải Hạm Đội và Nam Hải Hạm Đội.

Chiến lược chung của hải quân Trung Quốc

Chiến lược chung của quân đội Trung Quốc, còn gọi là “Cương lĩnh quân sự quốc gia cho thời đại mới”, gồm có hai phần. Phần thứ nhất là về đổi mới và hiện đại hóa quân đội toàn bộ từ trang bị vũ khí đến cơ cấu và tổ chức. Trong đó, hai vấn đề quan trọng nhất là “chuẩn bị đánh thắng các cuộc chiến tranh cục bộ trong hoàn cảnh công nghệ cao hiện đại” và “chuyển đổi từ một quân đội dựa trên số lượng đến một quân đội dựa trên chất lượng”, tức xây dựng một quân đội cơ khí hóa và tin học hóa. Phần thứ hai là các chiến lược hành động, còn được gọi là chiến lược “tích cực phòng ngự” và được coi là cương lĩnh chiến lược tối cao của quân đội Trung Quốc trong thời chiến cũng như trong thời bình.

Chiến lược “tích cực phòng ngự” gồm những điểm sau: chỉ tấn công sau khi bị tấn công nhưng chủ yếu là tấn công; sự phản công không bị hạn chế bởi yếu tố không gian và thời gian; khi tấn công thì bất chấp biên giới; chờ thời cơ và điều kiện thuận lợi để tấn công; khi tấn công thì tập trung hỏa lực vào những điểm trọng yếu của đối phương; chỉ tin dùng lực lượng của chính mình để tấn công đối phương; chiến dịch tấn công và phòng thủ phải tiến hành cùng một lúc.

Trên biển chiến lược “tích cực phòng ngự” mang tên “cận hải phòng ngự” với ba nhiệm vụ chính: kềm chế đối phương từ ngoài khơi và ngăn chặn không cho đổ bộ; bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự vẹn toàn lãnh thổ; bảo vệ sự thống nhất quốc gia và quyền lợi trên biển cả.

Xin lưu ý, “cận hải” ở đây là “đến tận những nơi xa xôi trên biển cả mà hải quân Trung Quốc có khả năng đưa các lực lượng đặc nhiệm đến với sự chi viện và an ninh cần thiết”. Khu vực cận hải hiện nay gồm hai chuỗi quần đảo : một là khu vực từ quần đảo Kurile, qua Nhật, Philippines, Indonesia (từ Borneo đến Natuna Besar) ; hai là khu vực bắc-nam từ quần đảo Kurile, qua Nhật, Bonins, Marianas, Carolines và Indonesia. Hai khu vực này bao trùm toàn bộ khu vực Biển Đông của Trung Quốc và vùng biển Đông Á.

Mục tiêu của chiến lược “tích cực cận hải phòng ngự” là “để khẳng định Trung Quốc là một cường quốc khu vực trên biển để bảo vệ các khu vực kinh tế duyên hải và các quyền lợi trên biển, và để tối ưu hóa các chiến dịch tác chiến của hải quân cho quốc phòng”. Nhiệm vụ của hải quân Trung Quốc hiện nay là trấn thủ các hải đảo, bảo vệ cũng như phong tỏa các đường giao thương trên biển khi cần.

 
 Trung Quốc mua lại hàng không mẫu hạm của Nga (Varyag) Nguồn:www.centurychina.com


Chiến lược này gồm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu được gọi là “chiến lược phòng ngự tích cực vùng nước màu xanh lục”, bao gồm một hình cung từ Vladivostok ở phía bắc đến eo biển Malacca ở phía nam, và ra đến “chuỗi quần đảo thứ nhất” (Aleutians, Kuriles, Ryukyus, Đài Loan, Philippines, và quần đảo Greater Sunda) ở phía đông. Giai đoạn hai là mở rộng vùng hoạt động sang “chuỗi quần đảo thứ hai” (Bonins, Guam, Marianas và quần đảo Palau) vào giữa thế kỷ 21. Trong tương lai, hải quân Trung Quốc sẽ mở rộng hoạt động đến các căn cứ ở Myanmar để có thể đi từ eo biển Malacca đến Vịnh Bengal.

Cho đến cuối thập niên 1990, hải quân Trung Quốc có khoảng 268 000 sĩ quan và binh lính, trong đó 25 000 người thuộc quân chủng không quân trực thuộc hải quân và khoảng 7 000 thủy quân lục chiến (thuộc Hạm đội Nam Hải) với 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến số một và số 164. Mỗi lữ đoàn có 3 trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo, một trung đoàn thiết giáp lội nước, và các đơn vị công binh, trinh sát, phòng chống hóa chất và giao thông.

 
 Thiết giáp lội nước 63A (Nguồn:www.centurychina.com)


Thủy quân lục chiến của Trung Quốc được huấn luyện và trang bị đầy đủ các loại vũ khí cần thiết (xe tăng lội nước, các tàu thuyền đổ bộ bay bằng nệm hơi hay bằng quạt gió, xe thiết giáp chở lính, súng đại liên và nhiều loại vũ khí phóng tên lửa khác nhau. Sứ mạng chính của lực lượng này là bảo vệ các hải đảo mà Trung Quốc đã chiếm trên biển Nam Hải. Trong thực tế các loại tàu thuyền đổ bộ của thủy quân lục chiến Trung Quốc còn rất lạc hậu so với các quốc gia khác như Nhật Bản, Úc và Nam Hàn.


Chiến lược phủ định (tiêu diệt đối phương)

Về thực lực, hải quân Trung Quốc còn quá yếu so với các cường quốc hàng hải khác trong khu vực như Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Úc và Hoa Kỳ. Hiện nay Trung Quốc đang dồn mọi nổ lực để sản xuất các loại hàng không mẫu hạm và tàu chiến các cấp.

Hải quân Trung Quốc hiện nay có hơn 400 chiến hạm loại tấn công, trong đó 50 chiếc được trang bị với các hỏa tiển và đầu đạn tầm gần và tầm xa tương đương với các loại tàu chiến của châu Âu nhưng chưa đủ khả năng đối đầu với các tàu chiến lớn của Mỹ. Ngoài ra còn có hơn 300 chiếc “hộ vệ đĩnh” đủ loại, chuyên gài những mìn tinh vi trên các biển Hoàng Hải, biển Nhật Bản, eo biển Đài Loan và Nam Hải.

 
 Khu Trục Hạm Vũ Hán 169 (Nguồn:www.centurychina.com)


Vì chưa thể đương đầu với các hạm đội trên mặt nước của Mỹ, chiến lược của Trung Quốc là dùng tàu ngầm để tấn công và phủ định sức mạnh của các hạm đội trên mặt nước của Mỹ vì các tàu trên mặt nước, đặc biệt là hàng không mẫu hạm, rất khó phòng thủ trước các cuộc tấn công của tàu lặn bắn hàng loạt các tên lửa có đầu đạn các loại gần xa cùng một lúc. Hiện nay Trung Quốc có khoảng 70 tàu ngầm đủ loại, chạy bằng diesel và năng lượng nguyên tử.

Phương pháp thứ hai trong chiến lược phủ định sức mạnh của hải quân Mỹ là làm tê liệt các phương tiện trinh sát và truyền tin của quân đội Mỹ, như diệt các vệ tinh để cho quân đội của Mỹ bị mù trong khi Trung Quốc tấn công các mục tiêu quân sự. Ngoài ra Trung Quốc đang triển khai hệ thống tên lửa xuyên lục địa lưu động để phá vỡ “hệ thống tình báo” của quân đội Mỹ.

Những thí dụ phòng hờ Trung Quốc và thái độ của Mỹ

Malaysia là quốc gia có quan hệ rất tốt với Trung Quốc. Về kinh tế, mậu dịch hai chiều đã tăng từ 14,2 tỉ USD năm 2003 lên 22,5 tỉ USD năm 2005. Theo tài liệu của Quỷ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF), năm 2005 Trung Quốc là bạn hàng lớn thứ tư của Malaysia, sau Mỹ, Singapore và Nhật. Nhập siêu của Malaysia đối với Trung Quốc tăng đều, năm 2005 là 3,9 tỉ USD. Tuy nhiên, chính phủ Malaysia rất lạc quan về quan hệ kinh tế với Trung Quốc và cả hai chính phủ đều đặt mục tiêu mậu dịch hai chiều sẽ tăng lên đến 50 tỉ USD năm 2010. Xuất khẩu nhiên liệu của Malaysia sang Trung Quốc sẽ giúp Malaysia giảm tỉ lệ nhập siêu vì Malaysia là một trong những nước xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (liquified natural gas, LNG) nhiều nhất trên thế giới. Tháng 11 năm 2006 hãng dầu quốc doanh (Petronas) của Malaysia thắng thầu cung cấp cho Thượng Hải mỗi năm 3 triệu tấn LNG trong 25 năm với giá 25 tỉ USD, đây là hợp đồng lớn nhất giữa hai nước.

Malaysia đối đãi rất tế nhị với Trung Quốc. Từ năm 2000 Malaysia đã nới rộng các hạn chế về thị thực và để cho công nhân Trung Quốc vào ra Malaysia một cách dễ dàng, nhờ đó số du khách từ Trung Quốc đến càng ngày càng tăng. Năm 2003 có 350 ngàn du khách Trung Quốc đến thăm Malaysia và năm 2006 con số này đã tăng đến 439 ngàn. Năm 2003 có 11 ngàn sinh viên Trung Quốc ghi tên học tại các đại học Malaysia, tương đương với 25% tổng số các sinh viên nước ngoài tại Malaysia. Số du khách và sinh viên to lớn đến từ Trung Quốc đã mang cho Malaysia một thu nhập đáng kể.

Về các vấn đề nhậy cảm khác như Đài Loan, eo biển Malacca và an ninh khu vực, Malaysia đã sử sự rất khôn khéo để không làm phật lòng Trung Quốc. Một trong những vấn đề an ninh tồn tại giữa hai nước là tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Năm 1980 Malaysia tuyên bố chủ quyền trên 12 đảo trong quần đảo Trường Sa và từ đó đến nay đã chiếm thêm 5 đảo. Trong thập niên 1980, Malaysia đã mua nhiều chiến hạm và máy bay hiện đại để phòng giữ các hải đảo trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Malaysia. Trung Quốc đã không có phản ứng mạnh vì sợ làm tổn thương quan hệ chính trị và kinh tế với Malaysia. Hơn nữa những khu vực mà Malaysia tuyên bố chủ quyền cách Trung Quốc quá xa trong khi không quân Trung Quốc chưa có đủ khả năng trợ lực các cuộc đổ bộ dành lấy các đảo này.

Hiện nay, Trung Quốc và Malaysia đang cải thiện dần quan hệ quân sự giữa hai nước. Tháng 9-2005 hai nước đã ký bản “Ghi nhớ về sự hợp tác quân sự” nhưng khi Trung Quốc đề nghị bán các hệ thống vũ khí, kể cả các chiến thuyền thì Malaysia đã lịch sự từ chối. Malaysia tiếp tục mua vũ khí của Mỹ, Anh và Nga vì tốt hơn và tối tân hơn những vũ khí chế tạo tại Trung Quốc. Hơn thế nữa, Malaysia đang yêu cầu Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện quân sự trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Tuy bề ngoài làm ra vẻ chống Mỹ, giới lãnh đạo Malaysia đã bí mật ký hiệp định cho phép Mỹ đem tàu chiến và máy bay quân sự vào Malaysia để sửa chữa hay tiếp tế.

Một cách khách quan, quan hệ quân sự của Malaysia với Mỹ quan trọng hơn quan hệ giữa Malaysia với Trung Quốc. Các chiến thuyền của Mỹ thường xuyên viếng thăm các cảng của Malaysia ; mỗi năm hải quân Malaysia và hải quân Mỹ tập trận đều đặn với nhau ; các đội người nhái của hải quân và bộ binh Mỹ thường tập luyện với các đội Malaysia ; các vùng rừng núi của Malaysia là địa bàn lý tưởng để huấn luyện tác chiến trong rừng rậm.

Malaysia còn thiết lập những quan hệ hợp tác quân sự với Anh, Úc, New Zealand, qua cái hiệp định gọi là “Five Power Defense Arrangement, FPDA”, để cho Trung Quốc thấy rằng Malaysia là một quốc gia độc lập, có chủ quyền và có thể là một lực lượng đối trọng trước một Trung Quốc đang bành trướng ảnh hưởng ra Biển Đông, đặc biệt là tại quần đảo Trường Sa.

Nói chung, các quốc gia Đông Nam Á đều có chính sách quốc phòng riêng của mình và phần lớn đang gia nhập vào chạy đua vũ trang khu vực, đặc biệt là mua hay đóng tàu ngầm. Năm 2007, Indonesia tuyên bố đang xây dựng xưởng đóng tàu ngầm tối tân với chỉ tiêu hạ thủy 12 chiếc năm 2024. Hiện nay Indonesia là quốc gia mua nhiều tầm ngầm nhất thế giới : 4 chiếc loại Kilo chạy bằng diesel của Nga với giá 200 triệu USD/chiếc và hai tàu ngầm của Hàn Quốc với giá 750 triệu USD. Singapore sẽ trang bị 6 chiếc tàu ngầm tối tân vào năm 2016. Malaysia đã đặt mua hai chiếc tàu ngầm Scorpene của Pháp. Việt Nam cũng muốn có 2 hay 3 chiếc tàu ngầm hạng Kilo của Nga. Tàu ngầm tuy có mang lại hiệu quả lớn trong việc chống các tàu thuyền trên mặt nước, nhưng nếu quá lạm dụng sẽ gây ra những hậu quả không có thể lường trước.

Vế phía Mỹ, mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ là hợp tác với các lực lượng hải quân trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương bảo vệ các dường thông thương trên biển, đặc biệt là tại eo biển Malacca và Biển Đông. Trung Quốc cũng bày tỏ ý muốn hợp tác quân sự với Hoa Kỳ trên Biển Đông để bảo vệ an ninh đường thông trên biển. Nói tóm lại, yêu cầu chiến lược của Mỹ là duy trì an ninh trên biển Thái Bình Dương, nhất là trên các đường giao thương qua khu vực Đông Nam Á và Biển Đông. Mỹ có thể can thiệp đơn phương hay hợp tác và phối hợp với các lực lượng quân sự khác để bảo vệ an ninh chung trên biển trong khu vực trên. Nhưng điều này không có nghĩa là Mỹ hay các lực lượng hải quân khác sẽ can thiệp khi có đụng độ giữa các nước tranh chấp các đảo trong khu vực Biển Đông. Giải pháp quân sự không phải là giải pháp an ninh và an toàn.


Hệ thống tổ chức lực lượng hải quân Trung Quốc

Lực lượng hải quân Trung Quốc gồm những chi đội, đại đội và trung đội. Mỗi chi đội có quân số tương đương với một sư đoàn của Mỹ nên thường được dịch là “division” hay “flotilla” (hạm đội). Hiện nay lực lượng hải quân Trung Quốc gồm có 7 chi đội : tàu ngầm (tiềm đĩnh), tàu khu trục (destroyers), tàu hộ tống (hộ vệ đĩnh), tàu cao tốc, tàu phóng ngư lôi, tàu chi viện tác chiến, tàu săn tàu ngầm.

Nhiều chi đội họp thành chi đội tổng hợp với các loại tàu khác nhau. Chẳng hạn như những chi đội tàu ngầm hạt nhân và tàu ngầm thông thường, chi đội tàu khu trục, chi đội tàu hộ tống và chi đội tàu cao tốc có những tàu phóng hỏa tiễn (đạo đạn đĩnh), tàu rà mìn, tàu phóng ngư lôi và tàu săn tàu ngầm. Các chi đội tàu chiến thường có một số tàu tiếp tế (tác chiến chi viện thuyền) đi theo.

Hải quân Trung Quốc có tất cả 15 cấp hàm và 5 tầng lớp. Các cấp hàm từ trên xuống dưới là : Quân ủy chủ tịch, tức là chủ tịch quân ủy trung ương, và quân ủy phó chủ tịch. Chức phó chủ tịch quân ủy tương đương với chức đô đốc (admiral) của Mỹ. Đô đốc của Mỹ là sĩ quan cấp 10, tức là cấp cao nhất. Quân ủy ủy viên, chức này cũng tương đương với chức đô đốc của Mỹ. Tư lệnh vùng gọi là “đại khu chính chức” tương đương với chức đô đốc của Mỹ. Phó tư lệnh vùng gọi là “đại khu phó chức”, tương đương với phó đô đốc (vice admiral) hay chuẩn đô đốc (rear admiral) của My (vice admiral của Mỹ là sĩ quan cấp 9 và rear admiral là sĩ quan cấp 8). Tư lệnh quân đoàn gọi là “chính quân”, tương đương với phó đô đốc hay chuẩn đô đốc của Mỹ. Phó tư lệnh quân đoàn gọi là “phó quân”, tương đương với chuẩn đô đốc hay thuyền trưởng cấp 7 của Mỹ. Sư đoàn trưởng gọi là “chính soái”, tương đương với thuyền trưởng cấp cao hay chuẩn đô đốc của Mỹ. Sư đoàn phó hay lữ đoàn trưởng gọi là “phó soái”, tương đương với thuyền trưởng (captain, cấp 6) hay thuyền trưởng cấp cao của Mỹ. Trung đoàn trưởng gọi là “chính đoàn”, tương đương với trung tá (cấp 5) hay thuyền trưởng của Mỹ. Trung đoàn phó gọi là “phó đoàn”, tương đương với trung tá hay thuyền trưởng của Mỹ. Tiểu đoàn trưởng gọi là “chính doanh”, tương đương với thiếu tá (cấp 4) hay trung tá của Mỹ. Tiểu đoàn phó gọi là “phó doanh”, tương đương với đại úy (cấp 3) hay thiếu tá của Mỹ. Đại đội trưởng gọi là “chính liên”, tương đương với trung úy (cấp 2) hay đại úy của Mỹ. Đại đội phó gọi là “phó liên”, tương đương với cấp trung úy hay thiếu úy (cấp 1) của Mỹ. Trung đội trưởng gọi là “chính bài”, tương đương với cấp thiếu úy hay trung úy của Mỹ.

Về tổ chức, hải quân Trung Quốc có 5 cấp chỉ huy như sau:

– Bộ Tư lệnh Hải quân. Theo cơ cấu tổ chức thì Bộ Tư lệnh có cấp hàm hạng 3, tức “đại khu chính chức”. Mãi đến năm 2004 tư lệnh trưởng và chính ủy đều là sĩ quan có hàm cấp 3. Nhưng đến giữa năm 2004 tư lệnh trưởng được thăng thành một ủy viên Quân Ủy và vì thế có hàm cấp 2. Nhưng chính ủy, ngang hàng với tham mưu trưởng, giữ hàm cấp 3.

– Bộ tư lệnh của ba vùng chiến lược : Bắc hải, Đông hải, và Nam Hải. Mỗi bộ tư lệnh có quân hàm cấp 4. Vì thế, từ những năm cuối thập kỹ 80, tư lệnh của các hạm đội trên đều có hàm “đại khu phó chức”.

– Mỗi hạm đội có các căn cứ trực thuộc và những căn cứ này có hàm cấp 6, tức phó tư lệnh quân đoàn. Có ba loại căn cứ : căn cứ phục vụ, căn cứ trắc nghiệm và căn cứ đào tạo. Căn cứ “hải quân hàng không binh” cũng có hàm cấp 6. Trong tất cả các căn cứ, 8 căn cứ phục vụ sau đây là quan trong nhất : Qingdao và Lushun (khu vực Bắc hải Hạm đội) ; Zhoushan, Fujian, Shanghai (khu vực Đông hải Hạm đội) ; Guangzhou, Yulin, Zhanjiang (Nam Hải Hạm đội).

– Mỗi căn cứ phục vụ có các đơn vị trực thuộc gọi là “thủy cảnh khu”, tức là những căn cứ có phận sự cảnh bị và phòng vệ các khu vực duyên hải. Có tất cả 8 căn cứ gọi là “thủy cảnh khu” : Dalian và Weihai (Bắc hải Hạm đội) ; Xiamen (Đông hải Hạm đội) ; Shantou, Beihai, Xisha/Hoàng Sa (Nam Hải Hạm đội).

– Các chi đội tàu chiến thông thường trực thuộc một căn cứ phục vụ và các đại đội tàu chiến có thể trực thuộc một căn cứ phục vụ hay một chi đội.

Trung Quốc hiện nay đang tân trang chiếc hàng không mẫu hạm loại Kuznetsov, tên Varyag, mua của Nga với giá nửa tỉ USD. Chiếc Varyag được đóng khi sự hiểu biết của Liên Xô về các hoạt động của máy bay trên một chiếc hàng không mẫu hạm chưa được tinh vi lắm. Nhưng Trung Quốc đã nhất định đưa chiếc này vào hoạt động, có thể như là một hàng không mẫu hạm dùng vào việc đào tạo vào năm 2010. Trong khi đó thì vào tháng 3-2007, một đô đốc Trung Quốc đã tiết lộ trong một tờ báo Hồng Kông rằng Trung Quốc đã tiến triển rất nhanh trong việc nghiên cứu và phát triển hàng không mẫu hạm và sẽ có thể hạ thủy một hàng không mẫu hạm vào năm 2010.

 
 Ngày 5 tháng 1 năm 2009, báo Asia Times đă đăng một bài phân tích về quân lực Trung Quốc với hải chiến đồ


Vấn đề là tại sao Trung Quốc lại quyết tâm phát triển hàng không mẫu hạm trong khi phát triển các chiến thuyền đổ bộ, tàu ngầm, các hỏa tiển siêu âm lướt trên mặt nước và tự điều khiển đến mục tiêu để chống thuyền trên mặt nước có hiệu quả hơn. Có nhiều lý do giải thích :

Một là Trung Quốc cho rằng đã đến lúc cho thế giới biết Trung Quốc không còn là một đại cường khu vực mà là một siêu cường. Nếu Trung Quốc có những hạm đội hàng không mẫu hạm mà Trung Quốc có thể gởi đi vòng quanh thế giới như Mỹ đã và đang làm thì Trung Quốc cũng có thể thị oai và chứng minh “sức mạnh mềm” của mình như Mỹ đã và đang làm.

Hai là, Trung Quốc càng ngày càng phải vận chuyển nhiên liệu từ các nước Trung Đông và Châu Phi qua biển Ấn Độ, eo biển Mallaca và Biển Đông. Sự vận chuyển nhiên liệu này hiện nay được an toàn là nhờ hải quân Mỹ bảo vệ sự di chuyển trên biển trong các khu vực này. Điều này làm cho Trung Quốc khó chịu vì vấn đề an ninh nhiên liệu đang phải dựa vào lòng hảo tâm của Mỹ. Không có nhiên liệu nhập thì Trung Quốc không có thể tiếp tục phát triển kinh tế với tốc độ cao như hiện nay, không có thể bành trướng ảnh hưởng, và không có thể tham chiến khi cần. Vì thế, việc phát triển hạm đội hàng không mẫu hạm là cần thiết để bảo vệ các đường nhập dầu và các nguồn dầu nhập. Trung Quốc đã tài trợ việc xây cất một cảng tại Gwadar ở Pakistan, gần vịnh Persian Gulf mà Trung Quốc có thể điều động một hạm đội hàng không mẫu hạm đến đó khi cần trong tương lai.

Theo nhiều nghiên cứu thì Hạm Đội Nam Hải là hạm đội hùng hậu nhất của Trung Quốc. Hạm Đội Nam Hải có ít nhất là 32 đội tàu ngầm, trong đó có những chiếc tàu ngầm tối tân nhất ; hai đội chiến thuyền đổ bộ ; các đội khu trục hạm ; các đội tàu đặt mìn và hơn một chục đội tàu tấn công cao tốc lướt trên mặt nước.

Chua cha’t một Việt Kiều về VN- Anderson Thai Quang

February 15, 2009

Sám hối của một Việt Kiều về làm ăn với Việt Cộng – Anderson Thai Quang ———————————————–

 

——————————— Saigon những ngày cận Tết mát lạnh và mang chút không khí của những ngày Giáng Sinh nơi Âu Mỹ. Mọi người chuẩn bị mua sắm cho nhà cửa và quà cáp cho người quen. Đường Nguyễn Huệ và quanh khu du lịch của trung tâm thành phố, hoa đang rộn rịp trang điểm cho mùa xuân, luôn luôn là biểu tượng của niềm hy vọng mới và vào một thay đổi nào đó tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn cho năm tới. Nhưng nếu du khách rẽ vào ngõ hẻm từ một con đường lớn, những con chuột to bằng con mèo, những con dán biết bay cùng ruồi muỗi, những ổ rác lộ thiên, những vũng nước ao tù… cho thấy một bộ mặt khác của Saigon. Bộ mặt của nghèo khó, bất hạnh và tù túng đã không hề thay đổi suốt 70 năm qua, mặc cho bao nhiêu mùa xuân của hy vọng trong quá khứ. * CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT Vừa mặc váy và cưỡi ngựa, một Việt Kiều nào đây??? Một chút ít về cái “tôi” để người đọc cảm thông thêm về chủ quan của lá thư này. Tôi đến Mỹ năm 1975 cùng làn sóng người tỵ nạn Cộng Sản sau khi miền Nam sụp đổ. Cha tôi là một đại úy của quân đội miền Nam (ở đây, nay gọi là Mỹ Ngụy), và tôi chỉ mới 5 tuổi, chưa hiểu biết chút gì về lịch sử hay chính trị. Cha mẹ tôi làm đủ mọi nghề, vất vả ngư ợc xuôi, từ lao động chân tay đến mua bán tiểu thương, để nuôi gia đình. Sau 30 năm, ông bà đã lo xong cho con cái, đã về hưu với căn nhà nhỏ và cuộc sống ổn định. Tôi lớn lên như một trẻ Mỹ, đi học, chơi đùa và coi xứ Mỹ như một quê hương chính thức, dù vẫn biết nói tiếng Việt theo thói quen của cha mẹ. Tốt nghiệp Thạc Sĩ về điện tử, tôi có công việc tốt, lấy vợ và sống đời trung lưu như trăm ngàn người khác. Cha tôi và các bạn ông thường tụ họp và bàn luận nhiều về tình hình Việt Nam, về những thù ghét của họ với nhà cầm quyền Cộng Sản, nhưng tất cả đều rất xa lạ với tôi. Khi học lịch sử ở trung học, tôi chỉ thấy có chút hãnh diện về Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé đã đánh bại được hai cường quốc là Pháp và Mỹ. Hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai anh hùng trong ký ức của tôi. “Khúc ruột ngàn dặm Đảng đang o bế hết mình” Cuộc sống bình lặng đó thay đổi hoàn toàn khi vợ tôi qua đời vì tai nạn xe cộ ba năm về trước. Không có con, thừa hưởng một số tiền bảo hiểm hơn 1 triệu đô la, cộng với giá nhà đang tăng cao vụt và một khoản tiền tiết kiệm lớn, tôi không còn thấy nhu cầu phải kéo cầy 11 tiếng mỗi ngày trước máy vi tính. Tôi quyết định trở về lại Việt Nam để làm ăn và tạo dựng một sự nghiệp mới. Tất cả những gì tôi đọc cho thấy một Việt Nam đổi mới với những con số an tượng về đầu tư của nước ngoài, về xuất khẩu, về cơ hội đầy tiềm năng của một “con rồng mới”. Cha tôi không phản đối, ông chỉ cho một lời khuyên,” Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà coi những gì Cộng Sản làm.” * HƯNG PHẤN VÀ THẤT VỌNG Tôi dọn về lại Saigon vào tháng Mười năm 2007. Chỉ số VNI của chứng khoán Việt khoảng 1,000 và đề tài thời thượng khắp nơi là cơn sốt địa ốc và số thu nhập của các đại gia. Số tiền 2.5 triệu đô la của tôi thật nhỏ bé khiêm tốn khi bàn chuyện đầu tư. Dường như ai cũng đầy tiền mặt và dự án, nhiều gấp mười lần khả năng của tôi. Dù vậy, tôi cũng rất hưng phấn cảm nhận niềm lạc quan vô bờ bến về sự thịnh vượng của nền kinh tế quốc gia. Trong khi đó, dựa theo truyền thống khoa học từ đại học Mỹ, tôi nghiên cứu kỹ hơn các con số từ các doanh nhân cũng như từ chánh phủ. Có rất nhiều điều sai trái và nghịch lý từ các con số, cũng như sự kiện thực tế về kết quả hoạt động. Sự nghi ngờ của tôi được xác nhận khi so sánh và định chuẩn theo mức sống thực sự của người dân, giàu cũng như nghèo. Chung đụng với mọi thành phần xã hội giúp tôi nhìn rõ hơn về thực trạng của quê hương. Những lời nói hoa mỹ, cũng như những biểu ngữ dăng kín thành phố, là một lớp son phấn rẻ tiền, che dấu một bộ mặt điêu tàn và thê thảm. Tôi nhận ra rằng cái cơ chế “kinh tế thị trường” mà nhà cầm quyền hứa hẹn khi ký văn bản gia nhập WTO chỉ là hình thức. Tất cả những miếng moi béo bở đều nằm trong tay quan chức và cán bộ Đảng Cộng Sản, cũng như bà con thân thuộc trong gia đình. Bộ Chánh Trị trung ương thì nắm chặt các công ty quốc doanh va bán quốc doanh, quan chức địa phương thì có những đặc lợi về ruộng đất, giấy phép, dịch vụ nhu yếu. Lãnh vực tư nhân chỉ được phép làm trong địa bàn nhỏ, nhiều rủi ro và những ai có lời đều phải chia xẻ lại cho các quan chức bằng nhiều phong bì lớn nhỏ. Tầng lớp quan chức và gia đình họ, qua hệ thống tham nhũng tinh vi, đã thâu tóm phần lớn lợi tức quốc gia và có quyền hành không kém các quan lại của triều đại phong kiến. Tôi nhận ra rằng cuộc chiến tranh dành độc lập với bao nhiêu xương máu của người dân chỉ là một cái cớ để Đảng Cộng Sản cướp chánh quyền. Những quốc gia láng giềng như Singapore, Mã Lai, Indonesia, đã dành độc lập không cần hy sinh và giờ đây, dân họ (nhờ một nền dân chủ minh bạch) đã trở nên giàu co Họ đang cấu kết với nhà nước Việt để trở thành những chủ nhân lớn của nhiều đơn vị kinh tế bằng cách dùng đồng tiền để mua lao động rẻ và tài nguyên định giá qua gầm bàn. Tôi nhận ra rằng chế độ to mồm này thực sự sống nhờ phần lớn vào những khoản viện trợ nhân đạo của các nước tư bản (mà họ từng lên án và đánh duổi); vào khoản tiền kiều hối của các cựu thuyền nhân (mà họ đã từng giam giữ tù đày khi kết tội phản quốc); vào mồ hôi nước mắt của những nô lệ mới qua danh từ xuất khẩu lao động hay qua các cuộc hôn nhân mua bán áp đặt; vào những khoản lệ phí va sưu thuế đầy phi nghĩa, cũng như một con số khổng lồ về hối lộ, đối với những người dân còn kẹt lại trong nước. Tôi nhận ra rằng hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế độ đã dùng mọi thủ đoạn để biến họ thành thần thánh, giúp cho chúng giữ vững địa vị và quyền hành. Đọc kỹ tiểu sử của ông Hồ Chí Minh sẽ tìm thấy một chính trị gia quỷ quyệt, nhiều mờ ám, hoàn toàn không có một chút chân thật gì, dù nhìn ở bất cứ góc cạnh nào. Con người của ông có rất nhiều tên gọi; ông tự viết cả tiểu sử để ca tụng mình (Trần Dân Tiên); ông không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con sinh rơi rớt từ các cuộc tình khắp thế giới; ông viết đơn cầu xin thực dân Pháp với những lời tâng bốc trơ trẽn (lá thư gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912); ông làm mật vụ cho Nga khi Pháp không đáp ứng lời khẩn cầu (chuyện của cựu Giám Đốc KGB Nga Vladimir Kryuchkov ); ông bỏ Nga theo Tàu khi có lợi (hồi ký của Li Zhi Sui); ông khoe là trọn đời độc thân để phục vụ tổ quốc trong khi có ít nhứt ba người vợ và bao nhiêu người tình, kể cả một tình nhân là vợ của một thuộc cấp (bà Nguyễn Thị Minh Khai, vợ ông Lê Hồng Phong). Gần đây, nhiều tài liệu lịch sử kết tội ông ra lệnh giết bà Nông thị Xuân và cô em, vì hai người này muốn tạo xì căng đan về mối tình khi chung sống với ông (cuốn sách ‘Ho Chi Minh: A Life’ bởi William Duiker và cuốn ‘Đỉnh Cao Chói Lọi’ cua Ba Dương Thu Hương). Chuyện ông thủ tiêu không biết bao nhiêu là đối thủ chánh trị có thể hiểu được vì ông làm chánh trị kiểu Cộng Sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Mao hay Stalin. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt Nam và nhìn những biểu ngữ ca tụng “tấm gương đạo đức của Bác Hồ”. Còn đại tướng Võ Nguyên Giáp thì tôi không biết nghĩ sao khi đọc cuốn sách ‘China and the Vietnam wars’ của Qiang Zhai. Ông cho biết là một tướng Tàu, Wei Gouqing, nguyên cố vấn quân sự của tướng Giáp, khẳng định là chiến thắng Điện Biên thực sự là do ông cố vấn đặt chiến lược và điều khiển; ông Giáp và ông Hồ đã định đánh Pháp tại khu vực sông Hồng. Tướng Wei cũng tiết lộ là năm 1953, H Chí Minh muốn thỏa hiệp với Pháp để đình chiến, nhưng Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồ là phải đánh đến cùng. Cuối cùng, Giáp và Hồ được nhận lãnh công lao ve chuyện xảy ra trên đất Việt, tướng Tàu không thể công khai xuất hiện. Một câu hỏi khác gây bàn tán là tài sản của con rể ông Giáp (Trương Quang Bình, người giàu nhứt nước) có bao phần là của ông tướng? Sau 1 năm ở Việt Nam, tôi hiểu được một sự thât căn bản của xã hội: tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thực sẽ làm mình đau khổ rồi còn bị công an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự nhiên, như ăn uống; và không ai suy nghĩ thêm về khía cạnh đạo đức của hiện tượng này. Trong môi trường đó, tôi đã không làm ăn gì được như dự tính. Suot 14 tháng chạy theo các dự án đầu tư, các cơ hội dài và ngắn hạn, tôi đành chịu thua. Thêm vào đó, những thủ tục hành chánh rươm rà, bất cập và luôn thay đổi, tạo cơ hội cho tham nhũng, đã làm tôi nản lòng. Cũng may, tôi chỉ mất hơn 200 ngàn đô la; một giá quá rẻ cho bài học nặng ký. Tôi không tiếc than gì cho cá nhân; chỉ thấy chua xót và thương hại cho những người kẹt lại.

HỒ CHÍ MINH là Hồ Tập Chương, dân Ðài Loan

February 9, 2009

Tri’ch Posted by Quản trị on February 8, 2009

Thiên Ðức

 

Vào ngày 1 tháng 11 năm 2008, một tác phẩm nghiên cứu bằng tiếng Hoa mang tên “HỒ CHÍ MINH SANH BÌNH KHẢO” (Khảo cứu về cuộc đời Hồ Chí Minh) do tác giả Giáo sư Hồ Tuấn Hùng (Ðài Loan) được Nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành tại Ðài Loan (mã số ISBN: 9789866820779). (ISBN: International Standard Book Number).

img
Hình số 1: Sách Hồ Chí Minh sanh bình khảo

Tác phẩm được sự quan tâm đặc biệt của bạn đọc bởi những nét đặc trưng như sau:

1)- Tác giả Hồ Tuấn Hùng, sinh năm 1949 là người gốc sắc tộc Khách Gia ở Ðài Loan, tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Ðại Học Quốc Lập Ðài Loan, có kinh nghiệm giáo chức 30 năm đồng thời ông còn là viên chức cao cấp Giáo Dục Hành Chính. Cuộc đời và sự nghiệp hoàn toàn không có quan hệ gì đến cuộc chiến Việt Nam. Tác phẩm chính là hoài vọng của tác giả mong mỏi đem lại một sự thật lịch sử rằng Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương, thuộc cho dòng giống Khách Gia (Hakka) tại Ðài Loan. Tác phẩm không mang tính phê bình hay ủng hộ cá nhân Hồ Chí Minh. Ngoài ra ông còn là tác giả của những tác phẩm như Dịch Kinh Tân Thuyên, Dịch Kinh Ðại Diễn Chiêm Phệ, Dương Trạch Phong Thủy, Trạch Nhật Bảo Ðiển, Lưỡng Hán Mệnh Lý Tư Tưởng Giản Giới.

2)- Tác phẩm: Là một công trình nghiên cứu nghiêm túc trong nhiều năm, với phần tham khảo, trưng dẫn tài liệu bằng Hoa, Anh, Pháp, Nhật, Việt kể cả hình ảnh của Hồ Chí Minh và Hồ Tập Chương qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Tập sách dày 342 trang, xuất bản lần thứ nhất bằng tiếng Hoa, đến thời điểm bài viết này chưa có bản dịch chính thức tiếng Việt hay tiếng nước ngoài nào khác.

3)- Nội dung: Theo phần trích và điểm sách của ông Nguyễn Duy Chính trong bài viết “Nhận xét về Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo” .

Nội dung Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo chia làm 6 thiên [không kể lời nói đầu và một số thư giới thiệu]:

Thiên thứ nhất: Màn kịch thay long đổi phượng (Thâu Long Chuyển Phượng đích hí khúc)
Sự thật về cái chết của Nguyễn Ái Quốc (Nguyễn Ái Quốc tử vong đích chân tướng)
Nguyên ủy của việc Nguyễn Ái Quốc chết rồi sống lại (Nguyễn Ái Quốc tử nhi phục sinh đích hí mã)

Thiên thứ hai: Việc thật giả của kế Kim Thiền Thoát Xác (Kim Thiền Thoát Xác chân giả nhân sinh)

Thiên thứ ba: Những năm tháng phiêu bạt giang hồ (Phiêu bạc lưu lãng đích tuế nguyệt)
Hồ Chí Minh tại Trung Quốc (Hồ Chí Minh tại Trung Quốc) (1938-1945)

Thiên thứ tư: Khúc tình ca nhân duyên đầy đau khổ (Hôn nhân luyến tình đích bi ca)

Thiên thứ năm: Bản văn Nhật Ký Trong Tù và bản di chúc (Hán Văn “Ngục Trung Nhật Ký” dữ di chúc)

Thiên thứ sáu: Lời kết hạ màn (Lạc Mạc Cảm Ngôn)

Hồ Tuấn Hùng khẳng định rằng Hồ Chí Minh [tức Nguyễn Ái Quốc] đã chết từ năm 1932 vì bệnh lao, theo báo cáo của nhà đương cục Anh tại Hương Cảng là đúng sự thực và sau đó là Hồ Tập Chương, một người Ðài Loan đồng tộc với tác giả giả dạng theo cái kế mà người Trung Hoa gọi là “thâu long chuyển phượng” và “kim thiền thoát xác”.

Cũng nên nói thêm, Hồ Tập Chương, người đóng vai ông Hồ Chí Minh sau này kém Nguyễn Ái Quốc 11 tuổi [theo năm sinh 1890 mà người ta ghi trên tiểu sử, mặc dù tuổi thật theo một số nguồn có thể còn cao hơn] và đây cũng là một điểm ông Hồ Tuấn Hùng dùng để chứng minh ông Hồ Chí Minh là giả hiệu mà chúng tôi sẽ đề cập đến sau.

1. Lý giải thứ nhất: Ông Nguyễn Ái Quốc [thật] dốt chữ Hoa, Hồ Chí Minh [giả] phải là người Trung Hoa mới có thể làm thơ được.

Theo lối tính của tác giả Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo, Hồ Chí Minh cho đến năm 21 tuổi không thể được học Hán văn quá 3 năm, còn tiếng Việt và tiếng Pháp không thể quá 4 năm rồi kết luận (tr. 258):

2. Lý giải thứ hai: Hồ Chí Minh trẻ hơn Nguyễn Ái Quốc 11 tuổi, không thể già như người ta nói

Ðể chứng minh tuổi “thật” của ông “Hồ Chí Minh” giả kia phải thấp hơn năm sinh 1890, Hồ Tuấn Hùng căn cứ vào câu sau đây trong bản di chúc ông Hồ viết năm 1969 để giải thích: “Ông Ðỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung quốc, đời nhà Ðường có câu rằng nhân sinh thất thập cổ lai hy nghĩa là người thọ 70 xưa nay hiếm!”.

“Năm nay tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây …”

Từ câu này, Hồ Tuấn Hùng lý luận:

Theo đoạn di chúc này, bút giả [tức Hồ Tuấn Hùng] nhận định rằng [câu này] phải là “nay tôi vừa sáu mươi chín tuổi” và đã bị sửa thành “nay tôi vừa bảy mươi chín tuổi”, vết sửa còn ngấn rõ ràng. Câu di chúc đó phải hiểu như sau:

“Nhân sinh thất thập cổ lai hi, năm nay, tôi vừa đến tuổi sáu mươi chín, đã vào hạng người xưa nay hiếm rồi. Có như thế thì văn mới thông? … Không lẽ ông Hồ Chí Minh là người thông hiểu Hán văn lại viết một câu mâu thuẫn kém ngữ pháp như thế ?

Tiếp theo, Hồ Tuấn Hùng cho rằng Hồ Chí Minh [tức Hồ Tập Chương] khi đó mới 69 tuổi [sinh ngày 11 tháng 10 năm 1901] nên việc ông Hồ so sánh tuổi 79 với câu “nhân sinh thất thập cổ lai hy” là không phù hợp [mà chỉ 69 mới thích đáng] (tr. 313-4).

3. Lý giải thứ ba: Hồ Chí Minh [giả] rất “kém” tiếng Việt, dịch một câu ngắn cũng không thông [vì là người Hoa mới học].

Ðể chứng minh rằng Hồ Chí Minh [tức Hồ Tập Chương giả dạng] không rành tiếng Việt khi viết những bài xã luận đăng trên Cứu Vong Nhật Báo [năm 1940], Hồ Tuấn Hùng đưa ra một bài viết nhan đề Thiên Thượng Cố Muội có chú thích ngay bên cạnh bằng quốc ngữ “Ông Trời Có Mắt” [để trong ngoặc đơn].

Theo ông, nếu hiểu nghĩa câu “ông trời có mắt” một cách rành mạch thì phải dịch ra chữ Hán tương đương là Hoàng Thiên Hữu Nhãn mới phải. Từ so sánh này, Hồ Tuấn Hùng cho rằng khi đó vì mới học tiếng Việt nên ông Hồ Chí Minh [Hồ Tập Chương] đã hiểu sai một “cụm từ” rất thông thường (tr. 190-1).

Luận cứ Hồ Tuấn Hùng để nhiều trang chứng minh rằng phải người Trung Hoa được học từ nhỏ là thư pháp [phép viết chữ Hán]. Xét những lần Hồ Chí Minh thăm Trung Hoa năm 1959, 1961 ông đã trổ tài đề chữ lưu niệm, theo Hồ Tuấn Hùng phải là “người học thuần thục tiếng mẹ đẻ mới làm nổi” đi đến kết luận Hồ Chí Minh không thể là Nguyễn Ái Quốc (tr. 305). (1)

(hết trích)

Bài viết điểm sách của ông Nguyễn Duy Chính có phần nghiêm túc thế nhưng phần phản biện đã không đưa ra được một tài liệu, hay một chứng cứ nào có thể lật đổ luận chứng của tác giả Hồ Tuấn Hùng, mà lại vội vàng kết luận phủ định sạch trơn (như sau) e rằng đã tự hạ thấp giá trị và trình độ viết lách của chính mình chăng (?)

Hơn thế nữa, vào thời kỳ 1930, Nguyễn Ái Quốc [sau này là Hồ Chí Minh] chỉ mới là một cán bộ cỡ trung, so với nhiều người khác ngay trong các cán bộ thuộc Á Ðông Vụ ông cũng chưa phải là con bài sáng giá thì hà cớ gì đảng cộng sản Trung Hoa phải mất công dàn dựng cho người đóng giả ?

Chẳng ai lại rỗi hơi “buôn” một ông vua trong khi chính những đầu não của Trung Hoa thời đó như Mao Trạch Ðông, Chu Ðức, Chu Ân Lai … còn long đong, luân lạc, sống nay chết mai.

Tác giả cũng không cho biết một chi tiết cụ thể nào chứng minh những điều ông nghe được quả thực xảy ra, chưa kể nguồn tin vốn từ những người hoàn toàn không có thẩm quyền hay vai trò quan trọng. Ông “bán thịt lợn” hay thương gia Ðài Loan đều vô danh, không ai biết tung tích ra thế nào.

Viết sử nếu chỉ dựa trên những “tin đồn” hay “nguồn tin riêng trong gia tộc” thì ít khi được công nhận một cách chính thức. Nghi án Hồ Chí Minh trong 37 năm sau cùng là một người Trung Hoa giả dạng thật không có gì đáng cho chúng ta tin. (1)

Bài viết này, không nhằm bình phẩm sách “Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo” bởi lý do người viết chưa có cơ hội đọc được bản chính tác phẩm nói trên. Thế nhưng nhân cơ hội này người viết có thể đặt vấn đề như sau: “Ông Hồ Chí Minh là người Hoa có thật hay không ?”

Ðây là một vấn đề nghiêm túc cần được sự lý giải rõ ràng bởi lý do:

  1. Liên quan đến sự sinh tồn của đảng cọng sản Việt Nam, nếu thật sự đi tôn thờ thần tượng của mình chính là một người Hoa
  2. Ảnh hưởng đến vận mệnh dân tộc Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử cận đại vừa qua và sắp đến.

Tác giả Hồ Tuấn Hùng có động cơ trong sáng và chính đáng trong công việc đi tìm sự thật cho một người trong thân tộc đó là ông Hồ Tập Chương. Nói đúng hơn đứng về phía gia tộc của ông Hồ Tuấn Hùng, nếu Hồ Tập Chương chính là Hồ Chí Minh thì đó là một sự vinh hạnh thành công của gia tộc họ Hồ. Thế nhưng đứng về phía Việt Nam, nếu đây là sự thật , thì dù là người Việt trong hay ngoài nước cũng không khỏi thắt ruột đau lòng cho một giai đoạn lịch sử dân tộc bị đánh tráo bịp bợm.

Có hai giả thiết để trả lời câu hỏi nêu trên:

1)- Hồ Chí Minh không phải là người Hoa: Ðây chính là công việc của đảng csvn và những ai từng tôn thờ và binh vực cho ông Hồ Chí Minh phải làm bằng những công trình nghiên cứu phản biện có chứng cứ, tài liệu mang tính thuyết phục chứ không phải là những bài báo hàm hồ phản bác qua loa không thể nào đánh tan được nguồn dư luận này. Rất tiếc cho đến nay đảng csvn chưa hề lên tiếng hay phản biện chính thức về vấn đề này. Chúng ta đành chờ đợi vậy.

2)- Hồ Chí Minh là người Hoa thật sự theo như luận cứ của ông Hồ Tuấn Hùng.
Ðọc lại tác phẩm Trần Dân Tiên cũng như xét lại hành động của Hồ Chí Minh khi còn sống đã tự xưng là cha già dân tộc Việt nam, cũng từng kiêu hãnh so sánh công lao của mình là một người Hoa ngang hàng với vua tổ Hùng Vương, Trần Hưng Ðạo.

Ngày 18/9/1954, trước Ðền Hạ thuộc Ðền Hùng, Phú Thọ, ông Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Ðại đoàn quân Tiền Phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô. Bác căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” ! (2)

Ðây là một quốc nhục cho tất cả những ai mang dòng máu Việt Nam kể cả trong và ngoài nước Cọng Sản hay không Cọng Sản. Ðảng csvn phải là người chịu trách nhiệm chính đã gây ra mối quốc nhục này.

Ðể tìm hiểu sự thật, không gì hơn lấy mốc thời gian từ giai đoạn Nguyễn Ái Quốc xuất dương đến lúc ở tù từ 1931 – 1933 so sánh với con người Hồ Chí Minh xuất hiện trở lại sau năm 1934 có phải là một người hay không ?

Trong trường hợp, Hồ Chí Minh đóng được vai Nguyễn Ái Quốc, phải là một điệp viên quốc tế siêu hạng đã đánh lừa được cả thế giới nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng trong suốt gần một thế kỷ qua.

Trình độ tình báo quốc tế vào thập niên 40s có thể huấn luyện con người có tác phong giọng nói của hai người giống nhau, cũng như giải phẫu chỉnh hình theo một đối tượng nào đó thật dễ dàng. Nhưng không có khả năng tái tạo hay nhân bản vô tính (Cloning) hai con người khác nhau như hiện nay. Vì thế, nếu nhân vật Hồ Chí Minh đóng vai Nguyễn Ái Quốc chỉ có thể thực hiện được về mặt hình thức và sinh hoạt thường ngày mà thôi, không thể nào có sự giống nhau trong các lãnh vực vượt quá khả năng tác động của con người. Ðó là:

– Hồ sơ bịnh lý
– Khả năng tiếng Hoa
– Tình cảm gia đình
– Ức chế tình cảm cuối đời

Do vậy mời bạn đọc cùng chúng tôi so chiếu lại con người thực tế của hai nhân vật này có phải là một hay không. Nếu có sự khác biệt thì câu hỏi ai là tác giả của vụ án buôn vua này cũng cần phải giải mã vậy.

Hận Nam Quan

February 4, 2009
Hận Nam Quan
Thursday, January 29, 2009
 

(trich Nguoi Viet OL)

 
 

Ngô Nhân Dụng

Tờ báo Xuân Kỷ Sửu của Tổng Cục Du Lịch trong chính quyền cộng sản trong nước đã đăng lại bài thơ Hận Nam Quan trong vở kịch thơ của Hoàng Cầm.

Trong số báo Xuân trên cũng đăng bài của thi sĩ Bùi Minh Quốc, một người mà mục này đã nhắc tới khi ông viết bài tố cáo “Âm mưu diễn biến hòa bình” của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Nhà thơ thấy Cộng Sản Trung Hoa đã tìm cách chiếm đoạt chủ quyền của Việt Nam bằng cách chiếm dần dần quyền lãnh đạo trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Âm mưu đó đã thành công một phần, như chúng ta thấy trong thái độ nhu nhược của giới lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội trước chính quyền Bắc Kinh trong vụ Hoàng Sa.

Bài viết của Bùi Minh Quốc nhắc tới “hồi ký” của Hoàng Tùng, một cựu cán bộ cao cấp và một đảng viên lâu năm đã từng theo sát các lãnh tụ cộng sản. Thực ra ông Hoàng Tùng không viết hồi ký, tài liệu được truyền bá trên Internet chỉ là những “lời tự thuật” của ông, được ghi lại và hiệu đính. Nội dung nhắm nhiều nhất vào những điều ông biết về Hồ Chí Minh, ông kể lại với chủ ý bênh vực cho ông Hồ. Riêng trong phạm vi này, ông Hoàng Tùng đã vô tình cho thấy “công cuộc diễn biến hòa bình” của Trung Cộng đã thành công từ thời 1950, khi các cố vấn đầu tiên của Trung Cộng sang chỉ huy quân đội cộng sản Việt Nam.

Trong một bài trước, mục này đã nhắc tới ý kiến của các cố vấn Trung Cộng là khai trừ các thành phần “không phải vô sản và bần cố nông” trong quân đội Việt Nam. Một người phụ tá của Văn Tiến Dũng đã lập một danh sách những sĩ quan nên khai trừ, nộp cho các cố vấn. Nhưng Hồ Chí Minh đã ngăn việc thanh lọc này vì sợ thiếu người. Mà quả thực, trong quân đội Việt Nam lúc đó thành phần thực sự vô sản và bần cố nông không có ai đáng làm sĩ quan.

Nhưng bài tự thuật của Hoàng Tùng cũng cho thấy sự thật về ảnh hưởng của các cố vấn Trung Quốc, bao trùm lên cả quân sự lẫn chính trị từ năm 1950. Theo Hoàng Tùng thì Hồ không thích rất nhiều chính sách của Trung Cộng. Hoặc Hoàng Tùng nói ông Hồ không phục Stalin và Mao Trạch Ðông mà ông ta còn hận vì bị hai người đó ép buộc. Các đảng viên cộng sản bây giờ hay nêu ra những chi tiết đó để chữa tội cho ông Hồ, có vẻ như muốn chứng minh ông ta không phải là cộng sản thứ thật, chỉ là cộng sản bất đắc dĩ mà thôi!

Nhưng đối với tất cả mọi người Việt Nam khác thì vấn đề không phải là ông Hồ phục Stalin hay không, không phải là trong thâm tâm ông ta đồng ý hay không thích những chính sách nào của Mao Trạch Ðông. Câu hỏi chính là: Cuối cùng ông Hồ đã làm gì và hậu quả ra sao?

Chúng ta thấy ông Hồ cuối cùng vẫn phải cúi đầu chấp thuận ý kiến của các cố vấn Trung Cộng. Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 6 và 7, suốt những năm từ sau năm 1950 ông Hồ mỗi lần viết đều nhất thiết suy tôn “Ðại Nguyên Soái Xtalin,” hoặc Chủ Tịch Mao Trạch Ðông vĩ đại.

Hoàng Tùng kể rằng trong thời gian đó cố vấn quân sự của Trung Cộng “Vi Quốc Thanh chuẩn bị (chiến dịch Biên Giới) mọi việc nhất nhất đều xin ý kiến của Mao.” Trước khi chiến dịch đó bắt đầu vào đầu năm 1950, Hoàng Tùng kể rằng Võ Nguyễn Giáp chủ trương đánh Cao Bằng nhưng Tướng cố vấn Trung Cộng Trần Canh bảo phải đánh vào Ðông Khê. Sau phải đánh Ðông Khê.

Hoàng Tùng kết luận, “Ðúng là Trung Quốc có công giúp ta trong trận Biên Giới.” Cái giá phải trả cho công “giúp” đó là, “Sau thắng lợi mới, tổng kết chiến dịch và sau đó là tiến hành chỉnh huấn, chỉnh quân, thay đổi lại tổ chức quân đội.” Những chữ “chỉnh huấn, chỉnh quân” không phải là những khẩu hiệu suông mà là những cuộc tranh đấu nội bộ trong quân đội, theo mẫu đã thực hành ở Trung Quốc, với mục đích tiêu diệt những thành phần “chưa giác ngộ quyền lợi giai cấp vô sản.” Cho nên Hoàng Tùng nói tiếp, “Thế là năm 1950-51, đoàn cố vấn thực hiện chỉnh đốn quân đội.”

Trong bài tổng kết về chiến dịch này, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, “Trung Quốc có câu Quân Lệnh Như Sơn,” tức là lệnh trong quân vững chắc như núi, không thể thay đổi được. Rõ ràng lối nói trên cũng nhắm để khi dịch bản tổng kết này ra tiếng Trung Hoa thì các cố vấn phải khen Hồ là một học trò giỏi của Mao Chủ Tịch.

Ðó là một bước đầu của “diễn biến hòa bình” mà Bùi Minh Quốc tố cáo. Từ đó, các cố vấn Trung Cộng còn tiến thêm nhiều bước nữa.

Trong thời gian đó Hồ Chí Minh chỉ đóng vai như một bù nhìn, bảo Võ Nguyên Giáp thi hành các lệnh hành quân của Tướng Trần Canh. Hồ Chí Minh cũng đóng vai cán bộ tuyên truyền, viết những lá thư gửi ra mặt trận hô hào các chiến sĩ Việt Nam hãy liều chết hy sinh. Trong lá thư đề ngày 8 tháng 10 năm 1950 Hồ còn hứa sẽ “khao các chiến sĩ một bữa thịt bò.” Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 6, bản in năm 2000, in lá thư thịt bò này ở trang 103, nhưng trước đó 2 trang còn in một bài thơ của Hồ Chí Minh tặng Tướng Trần Canh, cố vấn mặt trận. Bài này bắt chước gần nguyên văn bài Lương Châu Từ đời Ðường, trong câu đầu Hồ Chí Minh chỉ thay tên rượu “Bồ Ðào mỹ tửu” bằng tên một thứ rượu mới: “Hương Tân mỹ tửu dạ quang bôi.” Theo chú thích của nhà xuất bản thì “Hương Tân” ở đây là rượu champagne. Thế mới biết, trong thời gian kháng chiến gian khổ của toàn dân Việt Nam, các cố vấn Trung Quốc vẫn được trọng đãi!

Hoàng Tùng lại kể rằng tại đại hội đảng Lao Ðộng năm 1951, La Quý Ba là đại biểu ngoại quốc duy nhất (ngoài Lào và Cam Pu Chia) tới dự, ông cố vấn đã giảng về thuế nông nghiệp. Và, “Sau đó (Việt Minh) bắt đầu đánh thuế. Họ (Trung Cộng) đem các nề nếp từ bên Trung Quốc sang, đem kinh nghiệm chỉnh đảng, chỉnh phong từ Diên An sang. Sau đại hội ta không nói gì đến cải cách ruộng đất. Vì thế nên Mùa Hè năm 1952 Mao Trạch Ðông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải thực hiện cải cách ruộng đất.”

Vâng lệnh đó, năm 1953 Hồ Chí Minh phát động chính sách cải cách ruộng đất trong Hội Nghị Trung Ương kỳ thứ tư, khóa 2. Bài diễn văn báo cáo của ông, đọc ngày 25 Tháng Giêng năm 1953, đăng trong Toàn Tập 7, đã ca ngợi công cuộc cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. Ông Hồ kể Trung Quốc đã “chia ruộng cho 500 triệu nông dân” thành công rộng và lớn! Con số 500 triệu này là do các cố vấn cung cấp, vì lúc đó Bắc Kinh khoe nước họ đã có 582 triệu dân. Ðó là bước nhẩy vọt trong cuộc đời lệ thuộc Trung Cộng của Hồ Chí Minh.

Cuộc cải cách ruộng đất làm chết hàng trăm ngàn người Việt Nam, trong đó có những người đã theo kháng chiến chống Pháp từ đầu. Nhưng vụ giết người thê thảm nhất là vụ đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, còn gọi là bà Cát Thanh Long. Bà là người đã ủng hộ chính phủ kháng chiến hàng trăm lạng vàng, các con theo kháng chiến trong quân đội, các cán bộ cao cấp cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Ðức Thọ đã được bà nuôi. Ðó là những chi tiết mà Hoàng Tùng kể lại, trước khi ông tiết lộ có người Việt Nam đã mách cho các cố vấn Trung Cộng biết về bà Nguyễn Thị Năm để họ chọn làm “thí điểm,” đấu tố trước hết để làm gương. Hồ Chí Minh chống lại, nhưng sau cùng lại phải gật đầu đồng ý.

Theo nhận xét của Hoàng Tùng thì vụ “cải cách ruộng đất” chỉ là một cái cớ. Mục đích của các cố vấn Trung Cộng là thay đổi toàn thể cơ cấu đảng Cộng Sản Việt Nam. Hoàng Tùng viết về mưu đồ của Trung Cộng: “Họ muốn qua cải cách ruộng đất để chỉnh đốn lại Ðảng ta… họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể… họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là cải cách ruộng đất mà là đánh vào Ðảng ta.”

Thế Hồ Chí Minh làm gì trong lúc đó? Ngoài việc vâng theo lệnh các cố vấn Trung Cộng ra, ông chỉ còn phải lo viết những bài ca tụng các chính sách mà các cố vấn chỉ bảo, ra lệnh các cán bộ, đảng viên thi hành tốt các chính sách đó. Ngoài ra, ông còn để thời giờ làm thơ nữa, nhất là thơ bằng chữ Hán mà các cố vấn có thể đọc được. Trong một bài “Ngọ Quá Thiên Giang” viết ngày 17 Tháng Ba năm 1950, in trong Toàn Tập cuốn 6, trang 22, ấn bản năm 2000, Hồ Chí Minh đã viết bốn câu ca ngợi hồng quân Trung Hoa. Ðây là một trong những bài thơ Hồ Chí Minh viết trong chuyến đi Trung Quốc năm đó, ngẫu hứng viết về cảnh Bắc Kinh, Hồ Bắc, Trường Sa (ở Hồ Nam). Hai câu chót trong bài Ngọ Quá Thiên Giang ca ngợi chiến thắng của đạo quân Mao Trạch Ðông tại Thiên Giang, câu chót có khí thế rất hùng hồn, oanh liệt:

“Hồng quân trực đáo Trấn Nam Quan!”

Phan Văn Các dịch là “Hồng quân thẳng đến Trấn Nam Quan!”

Nếu các nhà báo trong Tổng cục Du lịch ở Việt Nam bây giờ mà đăng bài thơ Hận Nam Quan, họ nên nhớ, xin đừng quên, rằng trước đây 59 năm, hồi Tháng Ba năm 1950 Hồ Chí Minh đã hào hứng hoan nghênh đoàn quân của Mao “trực đáo Trấn Nam Quan” rồi!

Kỷ niệm 41 năm cuộc chiến Tết Mậu Thân

February 4, 2009

Kỷ niệm 41 năm cuộc chiến Tết Mậu Thân năm 1968 tại Việt Nam
Jan 29, 2009

Ngày hôm nay 29 tháng giêng và đêm hôm nay là ngày kỷ niệm trận Mậu Thân diễn ra đúng 41 năm về trước, khi quân đội Cộng sản tổ chức cuộc tấn công bất ngờ vào các thành phố miền nam Việt Nam, trong lúc người dân Việt đang sửa soạn đón mừng ngày Tết cổ truyền của dân tộc, bất chấp lệnh hưu chiến đã được hai bên ban hành trước đó.

Cuộc chiến diễn ra tại 30 tỉnh thành rên toàn lãnh thổ miền nam Việt Nam trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, chỉ trừ vụ tấn công Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Saigon để gây tiếng vang trên thế giới, du kích Cộng sản hầu như tránh tấn công các căn cứ quân sự Hoa Kỳ trên toàn quốc, mà chỉ nhắm vào các thành phố và các căn cứ quân sự Việt Nam Cộng Hòa.

Cuộc tấn công diễn ra sớm nhất tại Quảng Nam khi họ pháo kích trại định cư Trà Kiệu, ở phía Nam thành phố Đà Nẵng khoảng 30 cây số, vào đêm Giao thừa tức đêm 29 rạng 30 tháng giêng năm 1968, và rút lui trễ nhất tại Huế vào ngày 25 tháng 2 năm 1968. Như vậy cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân diễn ra trong gần một tháng. Trong suốt tháng nầy, cộng sản tấn công 44 địa điểm tại các thị trấn, tỉnh lỵ và thành phố trên toàn quốc.

Trong số những nơi bị tấn công, hai địa điểm quan trọng nhất mà cộng sản nhắm tới là hai thành phố Saigon và Huế. Saigon là thủ đô của miền nam Việt Nam, trong khi tại Huế là nơi diễn ra cuộc tàn sát khiến cho cả thế giới phải rùng mình kinh sợ trước hành động gây kinh hoàng của Cộng sản Việt Nam. Ngay sau khi chiếm vùng tả ngạn phía bắc Huế, vùng chợ Đông Ba, Thành nội ngày mồng 2 Tết, Cộng sản đã chú tâm vào việc lùng bắt và kiểm soát tù hàng binh, chúng truy lùng và bắt giết tất cả những nhân viên chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và nhân viên làm việc tại các cơ quan Hoa Kỳ, hoặc những người cộng tác với Cơ quan tình báo Trung ương Hoa Kỳ. Chúng là tác giả của những cái chết thê thảm tại Huế, nhất là lúc cộng sản chuẩn bị rút lui. Trái với dự đoán của cộng sản, dân chúng Huế bị ép buộc phải dự những cuộc hội họp, mít tinh do cộng sản tổ chức nhưng không hưởng ứng cuộc tổng khởi nghĩa do công sản đề ra. Họ cũng không theo Cộng sản mà bỏ chạy về phía các vùng do quân đội Cộng Hòa kiểm soát, để rồi từ đó đánh bật Việt cộng ra khỏi Thành nội vào ngày 23 tháng 2. Cộng sản ra lệnh rút lui lên vùng rừng núi phía Tây, và thực hiện cuộc tàn sát dã man nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Thống kê ước lượng cho thấy tại mặt trận Huế, quân đội Việt Nam Cảnh sát có 384 tử trận, 1830 bị thương; Bộ binh Mỹ 74 tử trận, 507 bị thương; Thủy quân lục chiến Mỹ 142 tử trận, 857 bị thương, Bộ đội Bắc Việt và Việt cộng khoảng 5000 người tử trận, số bị thương không tính được.

Trong biến cố Mậu Thân 1968 tại Huế, rất nhiều nạn nhân bị cộng quân giết hại thảm khốc trong thời gian cộng sản tạm chiếm Huế, nhiều nhất là các nhân viên chính quyền, cảnh sát, binh sĩ và sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đang nghỉ Tết, không ở vị trí chiến đấu, và một số khá lớn thường dân không cầm súng chống lại họ, chỉ chạy tỵ nạn chiến tranh. Cho đến nay không ai có thể kiểm kê đích xác số thường dân cũng như số binh sĩ đang nghỉ Tết bị phía cộng sản giết hại. Một thống kê sơ khởi cho rằng về phía dân chúng, có 5800 người chết, trong đó có 2800 người bị Việt cộng giết và chôn tập thể: 790 hội viên các Hội đồng tỉnh, thị xã và xã bị gán tội cường hào ác bá, 1892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, hằng trăm thanh niên tuổi quân dịch, một linh mục Việt, hai linh mục Pháp, một bác sĩ Đức và vợ, và một số người Phi Luật Tân đã bị giết một cách thê thảm. Nhìn vào bản đồ vị trí các mồ chôn tập thể, một điểm nổi bật là tại thành phố Huế, khu phố Gia Hội và vùng phụ cận như Bãi Dâu là nơi duy nhất có nhiều mồ chôn tập thể.

Điều nầy cho thấy do cộng quân chiếm giữ Gia Hội được lâu, nên có điều kiện bắt giết nhiều người tại chỗ. Ngoài Gia Hội, những nấm mộ tập thể khác nằm ở các vùng phụ cận chung quanh thành phố Huế. Khi rút lui, cộng quân đem theo những người bị bắt giữ, vừa làm phu khuân vác, vừa khỏi bị lộ bí mật, vừa làm con tin và bia đỡ đạn để tránh bị quân đội pháo kích hay chận đánh. Số người bị cộng quân đem theo lên đến vài ngàn người. Đến khi cộng quân cần biến vào rừng, cộng quân giết tất cả những người nầy để khỏi lộ tung tích. Tính chung trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân trên cả nước, 21,330 bộ đội Cộng sản bỏ mạng, và 1169 binh sĩ quân đội đồng minh thiệt mạng trong chiến dịch này.

 

(trich Cali today)

Lê Khả Phiêu khoe nhà

February 1, 2009

tri’ch

Tết thăm nhà bác Lê Khả Phiêu

 

Blacky blog

Ban liên lạc Đồng hương Thanh Hoá tại Hà Nội đã có buổi đến thăm và giao lưu với bác Phiêu tại nhà riêng tại ngõ 34A Trần Phú (ngôi nhà bác mới chuyển về từ đường Hoàng Diệu).

Đại diện của Ban liên lạc gồm có: ông Lê Xuân Thảo – Trưởng Ban Đồng hương Doanh nghiệp TH, ông Lê Thế Chữ – Truởng Ban liên lạc Đồng hương Tỉnh, ông Hoàng Văn Đoàn – Phó Trưởng ban Doanh nghiệp, ông Lữ Thành Long – TGĐ Công ty Misa, ông Nguyễn Hồng Chung – Chủ tịch Công ty Luật Đại Việt, ông Bùi Việt Hà – Giám đốc Công ty HINCO, ông Nguyễn Hữu Hùng – Công ty Truyền thông Dầu khí Việt Nam, Lê Xuân Tiến Trung – Công ty Việt FT và một số thành viên khác.

Sau đây là một số hình ảnh buổi gặp mặt bác Lê Khả Phiêu:

img
Trên đường đến nhà bác Lê Khả Phiêu

 

img
Nơi ở trước của bác Lê Khả Phiêu trên đường Hoàng Diệu

img
Quà cáp cho bác nho nhỏ thôi , đổi lại tình cảm của bác với nhân dân đất nước mới quan trọng .

img
Nhà mới của bác Lê Khả Phiêu

 

img

img

 

img
Trong nhà bác toàn những hiện vật quý giá mang đậm tinh thần dân tộc, và cả vị “cha già dân tộc” nửa, tất cả mọi người trên đất nước việt nam này đều là “con cháu của bác Hồ”.

 

img

img
Nhìn phong bì thế thôi chứ trong đó ko có tiền đâu, chỉ là thư thăm hỏi sức khỏe bác. Nhưng bác dặn lần sau đến thăm bác là được rồi, đời sống dân mình đang khó khăn , đừng bày vẽ quà cáp gì mà lãng phí.

 

img
Gặp mặt bác Lê Khả Phiêu tại phòng khách

img
Thăm quan nhà bác Lê Khả Phiêu. Mọi người đều ngưỡng mộ con người học cao hiểu rộng của bác, cả 1 tủ sách đồ sộ với tư tưởng Mác Lê nin; Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh !.

img
Thăm quan Phòng Thư viện : hình cụ Mác cụ Lê đặt trang trọng trên cùng chính giửa, bác Hồ chỉ dưới 1 chút thôi. Còn 2 bên là trống đồng và chử Tâm bằng vàng. Trống đồng tuy là nét biểu trưng của văn hóa dân tộc nhưng giờ đã là “thời đại Hồ Chí Minh” rồi không nên ôm quá khứ mà phải học “cái hay cái đẹp” của “tư tưởng Hồ Chí Minh” !

 

img
Chụp ảnh lưu niệm với tượng bác Lê Khả Phiêu bằng đồng

 

img

img
Ảnh chân dung bác Lê Khả Phiêu, dưới là cặp ngà voi nho nhỏ xinh xinh (giá thị trường hơn 50 nghìn đô).

 

img
Tư liệu về các cuộc gặp mặt với các nguyên thủ quốc gia các nước

 

img
Bác Phiêu đang giới thiệu với bác Lê Thế Chữ về những bức ảnh ghi lại những năm tháng mà bác đã vất vã lao động cống hiến cho đồng bào quốc dân .

 

img
Ngôi nhà mới hoàn thiện, nên đang còn một số bề bộn

img
Nhà bác thật văn hóa, đi đâu cũng thấy sách.

img

img

img
Bác cũng là 1 người rất đam mê nghê thuật và biết thưởng thức cái đẹp. hình như phải bỏ cái móc áo quần vào giữa bức tranh mới đẹp, nghệ thuật mà.

img
Quang cảnh nhìn từ tầng 4

img
tuy biết cộng sản là vô thần vô thánh nhưng tối nào trước khi đi ngủ cũng lạy bác phù hộ độ trì cho chúng cháu sống lâu để phục vụ nhân dân được tốt hơn

img

img
Vườn rau sạch nhà bác Phiêu
Vì thực phẩm trên thị trường rất độc hại nên nhà bác phải trồng rau sạch để ăn .

img
Nhìn sang bên phải là Bộ Quốc Phòng, nơi có sân bay Trực thăng, để lỡ đất nước có chuyện gì là bác sẽ là người bay đi công tác trước tiên .
img
Nhà bên cạnh là nhà riêng của Đại tướng Chu Huy Mân, các bác phải sống gần nhau để tối lữa tắt đèn có nhau, tình cảm đồng chí đáng quý biết bao .

 

img
Phòng làm việc của trợ lý bác Phiêu với những vần thơ làm xúc động lòng người : “Hồ Chí Minh người sống mãi đời với non sông Việt Nam và trong tái tim nhân loại”

img

 

 

img
Cuốn sách về bác Lê Khả Phiêu được bác tặng cho mọi người, “Mênh Mông tình dân”, ôi tình cảm nhân dân dành cho đảng và nhà nước thật nhiều, thử hỏi trên giãi đất hình chử S này có nơi nào mà không mang ơn bác và đảng !

 

img
Món quà của Ban liên lạc tặng bác Phiêu nhân ngày sinh nhật
Mình đã đi nhiều nhà lãnh đạo, và thật thương bác Phiêu vì nhà bác sao mà đơn sơ quá, còn thua xa cả những lãnh đạo cấp nhỏ ở tỉnh mình nữa.

 

Vì nhà thờ họ NT Dũng, trưởng cảnh sát bị đi vùng sâu vùng xa

January 24, 2009
trich NVOL, 24/12/09 

 

Chuyện vỉa hè: Nhà thờ họ của thủ tướng và trưởng phòng cảnh sát giao thông Kiên Giang
Friday, January 23, 2009

 
 
 
medium_vn_240109_nhantdung.jpg    

 

 

Hình bên: Nhà thờ họ của Nguyễn Tấn Dũng. To, đẹp, sang trọng hơn cả đền thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực. “Nhà thờ họ” này đã và đang là “bia miệng” trong dân chúng Việt Nam. (Hình: Blog “Change we need”)

LTS: Những thông tin về đời tư của các viên chức lãnh đạo đảng và chính quyền CSVN vốn vẫn là một trong những điều cấm kỵ, một thứ được xem ngang hàng với các “bí mật quốc gia” khác. Sở dĩ có thực trạng này là vì nếu được công khai, chắc chắn những thông tin về đời tư của các viên chức lãnh đạo đảng và chính quyền CSVN sẽ khiến người ta có cơ hội nhìn sâu, hiểu kỹ hơn về cá nhân quan chức cũng như bản chất chế độ – vốn khác rất xa với nỗ lực tuyên truyền.

Gần đây, dù đảng và chính quyền CSVN đã “đổi mới, mở rộng dân chủ”, hệ thống truyền thông CSVN vẫn không thể đề cập đến đời tư của các viên chức lãnh đạo đảng và chính quyền CSVN. Do vậy, nhiều blogger đã cũng như đang lên tiếng.

Dưới đây là một trong những bài viết, lột trần một phần đời tư của một trong những viên chức cao cấp nhất của đảng và chính quyền CSVN: Ông Nguyễn Tấn Dũng – Ủy viên Bộ Chính Trị kiêm thủ tướng. Blogger này có nickname là “Change we need”…

 

Vừa đến làm việc tại Phú Quốc hồi giữa tuần, nhớ một người bạn cũ làm cho công an tỉnh Kiên Giang nên điện thoại nói chuyện. Câu chuyện của anh ấy làm tôi quyết định phải gác công việc ở Phú Quốc lại, bắt một chuyến tàu đi hơn hai giờ trên biển để đến thị xã Rạch Giá, thủ phủ của tỉnh Kiên Giang. Những gì tôi nghe thấy không phí công sức của mình.

Người bạn này dẫn tôi đến một khuôn viên rất lớn, đến cả ngàn mét vuông, nằm trên con đường lớn nhất thị xã – đường Nguyễn Trung Trực. Dù đã cố gắng tưởng tượng sự hoành tráng của nó qua những lời kể trên điện thoại nhưng khi tận mắt chứng kiến thì nó vượt quá trí tưởng tượng của mình nhiều lần. Ðó chính là nhà thờ họ của đương kim Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng (Ba Dũng), vừa mới khánh thành cách đây một tháng. Dù rất kín cổng cao tường nhưng có lẽ người ta cũng muốn người ngoài nhìn thấy sự hoành tráng của nó nên qua những khe hở hàng rào, vẫn có thể thấy được “chiều sâu” bên trong khuôn viên. Cả khuôn viên bao gồm một căn biệt thự theo kiến trúc Tây và ba gian nhà thờ theo kiến trúc Việt cổ. Giới thầu xây dựng tham gia làm công trình này nói nó trị giá gần 40 tỷ đồng và đã khởi công từ hai năm trước. Tôi không vào được bên trong nhưng theo người bạn thì nguy nga vô cùng, toàn những cột gỗ to một người ôm không hết, được chạm trổ công phu, những vật trang trí trong các gian thờ thì toàn là những loại đặc biệt và thượng thặng, được chọn từ những nơi sản xuất nổi tiếng nhất và tâm linh nhất Việt Nam về các món hàng ấy mang về đây.

Việc thi công và vận chuyển cho công trình này hoàn toàn thuận lợi không gặp trở ngại gì, chỉ trừ một chuyện nhỏ duy nhất. Ðó là cặp hạc to, cao tới hơn ba mét được chở suốt từ Bắc vào Nam, tới Cần Thơ cũng chẳng gặp trở ngại nào dù nó vi phạm luật giao thông (NV: cồng kềnh, không an toàn khi vận chuyển). Ði đến đâu mà gặp cảnh sát giao thông thì chỉ cần nói là hàng chở cho anh Nghị, ai không biết thì chỉ cần gọi một cú điện thoại thì tiếp tục lên đường mà cảnh sát còn phải cảm ơn và xin lỗi trối chết. Ấy vậy mà về tới ngay địa phận tỉnh Kiên Giang, cảnh sát giao thông thấy xe chở hàng cồng kềnh không đảm bảo an toàn giao thông nên bắt dừng lại để xử phạt. Lái xe thay vì xuống năn nỉ và hối lộ như bao nhiêu người khác thì lên giọng: “Ðây là việc của anh Nghị, các anh mà làm trễ nãi thì phải chịu trách nhiệm đó”. Cảnh sát giao thông thấy lạ, điện thoại về hỏi ý kiến cấp trên xem có chỉ thị nào đặc biệt không. Báo cáo lên mấy cấp, cuối cùng lên đến trưởng phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Kiên Giang. Ông này bảo “Nghị gì cũng giam xe lại xử đúng theo qui định”. Thế là cặp hạc phải vào khám mà ngày khánh thành nhà thờ họ của thủ tướng chỉ còn vài bữa.

Mọi việc diễn ra bên trong thế nào thì không biết, chỉ biết rằng đúng 48 giờ sau khi ra lệnh giam xe của anh Nghị, ông Trịnh Xuân Hồng, trưởng phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Kiên Giang phải đi nhận nhiệm vụ mới là trưởng công an huyện Gia Thành, một huyện vùng sâu, vùng xa trên núi, hẻo lánh gần biên giới Campuchia. Cặp hạc thì được điệu đi nhanh chóng để kịp sáng hôm sau, thủ tướng về khánh thành nhà thờ họ. Dân trong ngành công an tỉnh Kiên Giang nói rằng chưa bao giờ có một quyết định về nhân sự cấp cao của tỉnh diễn ra chớp nhoáng đến như vậy. Cái giá cho ông Hồng phải trả về “tội” không biết “anh” Nghị là hoàng tử, cậu ấm và là người nối dõi của thủ tướng như thế rõ ràng còn nhẹ, còn giữ được cấp bậc tương đương là may mắn lắm rồi. Tôi muốn nhờ người bạn sắp xếp ghé thăm ông ấy nhưng tiếc là ông ấy đang đi công tác. Theo người bạn này, một bộ phận lớn các đảng viên, quan chức đang rất bất mãn chế độ này. Ðề tài này hẹn các bạn bài viết lần sau. Giờ tôi kể tiếp chuyện tâm linh của thủ tướng.

Cái nhà thờ họ này cũng xuất phát từ lời phán của các ông thầy cúng. Chắc mọi người còn nhớ vào Tháng Tám năm 2006, lúc mới vừa lên làm thủ tướng được hơn 2 tháng thì một điềm xấu xuất hiện, đó là hòn Phụ Tử tại Kiên Giang, đất phát tích của anh Ba Dũng, bị gãy mất hòn cha, rơi sâu xuống biển. Nhiều giải pháp khoa học được đưa ra nhưng không có cách nào phục hồi lại được. Cả gia đình thủ tướng lo sợ, mời các thầy về xem khắc chế điềm này thế nào. Cuối cùng, thầy kết luận là phải xây một nhà thờ thật lớn tại Rạch Giá, nơi anh Ba đi lên từ y tá, huyện đội trưởng rồi thành thủ tướng như hôm nay. Cái nhà thờ này phải làm thật to, to nhất ở đây để tỏ lòng thành kính với tổ tiên và các vị thánh thần ở vùng đất này để họ gia hộ cho sự nghiệp của thủ tướng bền vững. Cuối cùng, đúng là nó to thật, to hơn nhiều lần đền ông Nguyễn – nơi thờ vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực và những người đã hy sinh cùng với ông tại đất Rạch Giá này – nơi đã diễn ra trận đánh lớn nhất của nghĩa quân chống Pháp.

Chẳng biết giải pháp tâm linh này sẽ củng cố cho thủ tướng bền vững đến thế nào, nhưng câu chuyện mà tôi trao đổi với một chú lái xe ôm ở Rạch Giá cho thấy rằng anh Ba chẳng còn chút nào giá trị trong lòng dân nữa. Ngồi đằng sau xe tôi hỏi:

– Chú lái xe ôm lâu chưa?

– Cũng năm năm rồi, từ lúc tôi mới về hưu.

– Kiếm sống được không chú?

– Bữa có bữa không, có ngày còn lỗ tiền xăng nhưng nói chung là không đói.

– Trước đây chú làm gì? Không có lương hưu sao mà phải đi làm?

– Tui ngày xưa đi bộ đội, tui ở cùng chỗ với thủ tướng của mình bây giờ đó nhen. Nhưng ổng lên nhanh quá, đúng là người ta có số. Nói là về hưu chứ đâu phải là tới tuổi hưu. Tui cũng bằng tuổi ổng. Sau khi ra khỏi bộ đội tui về làm ruộng, rồi đi làm bảo vệ năm ba nơi, rồi bị giảm biên chế, rồi lại làm ruộng. Cuối cùng, chỗ ruộng của tui bị giải tỏa, đền được mấy cây, mua được cái xe này và mấy món đồ dùng khác. Giờ thì chỉ còn biết lái xe kiếm sống thôi.

– Chú có biết cái nhà thờ họ, nghe nói xây rất lớn, của thủ tướng ở đây không?

– Cái đó dân ở đây ai mà không biết, nó nằm trên đường Nguyễn Trung Trực, có tới đó không, tui chở đi.

– Chở cháu đến đền ông Nguyễn trước. Nhưng hai năm qua, cuộc sống của chú có thấy đỡ hơn không?

– Ðỡ gì mà đỡ, nói thiệt là lúc ông Dũng mới lên, tui hy vọng lắm vì thấy ai cũng bảo ông ấy đổi mới lắm, lo cho dân hơn. Nhưng cái tui thấy rõ là cuộc sống tui ngày càng khó, tiền kiếm chẳng hơn mà còn ít đi, giá thì lên ào ào chóng mặt. Mấy năm trước thỉnh thoảng còn được ăn gà, ăn thịt, giờ thì chẳng dám nghĩ tới. Dân nghèo tụi tui nói giỡn với nhau rằng thủ tướng hứa đưa đất nước đi lên thì nó lên thiệt, giá cả lên vèo vèo không thấy sao?

– Nhưng mà chú có thấy có nhiều người có cuộc sống đi lên chứ?

– Cái đó chỉ là quan chức thôi chú ơi, họ giàu lắm, ngày càng giàu, chẳng biết của để đâu cho hết. Một người làm quan cả họ được nhờ mà chú. Tui nghe đâu là Tư Thắng, em ruột của ông Dũng giờ giàu lắm, giàu nhất nhì ở Cần Thơ đó. Ngày xưa Tư Thắng ở đây suốt ngày vô bia ôm, có khi ra khỏi quán xỉn dữ lắm, đón xe tôi chở về.

– Chú cùng tuổi với thủ tướng, chú tuổi con trâu hả?

– Ðúng vậy, năm nay sáu mươi rồi, năm sau bước qua năm tuổi. Còn ông Dũng nghe đâu tuổi thật là con cọp, khai nhỏ hơn 1 tuổi. Hồi ổng còn ở bộ đội, ổng là cấp trên nhưng tui thấy ổng chẳng có gì đặc biệt lắm nhưng sau đó lên nhanh lạ lùng.

– Nhưng ông ấy phải giỏi cái gì lắm thì mới như thế được chứ chú?

– Giỏi gì chú ơi, ông ấy cũng dân mắm muối như tui thôi, nói thiệt lúc tui học xong tú tài thì ông còn chưa học xong cấp 1. Chẳng qua ba ổng là cận vệ của ông Kiệt, bảo vệ ông Kiệt thoát chết nhiều lần, sau này hy sinh nên ông Kiệt hứa lo cho con trai của người đã chết. Vậy nên ông Dũng mới lên được như vậy. Chứ giỏi thiệt cũng đâu có chắc lên được đâu, nước mình ngàn đời nay vẫn vậy.

– Sao chú bi quan vậy? Cháu thấy cũng có cái tốt đấy chứ.

– Chú ở xa tới hổng biết đâu, dân bị bóc lột, đàn áp ghê lắm. Lúc ông Dũng mới lên dân nghèo tụi tui nói nhau rằng chắc ổng sẽ lo cho dân nơi này vì ổng lớn lên từ nơi này, không để dân bị oan ức. Nhưng oan ức ngày càng tăng lên.

– Chú có nghe vụ dân Kiên Lương bị đàn áp ở đây không?

– Có chứ, chuyện đó ở đây ai cũng biết.

– Xong chỗ đền ông Nguyễn, chú chở cháu đến đó nhé.

– …

 

 

 

 

Đất nước VN của ai ?

January 23, 2009
Trích
Đào Hiếu, BBC, 22/12/08
Có vẻ như “Đất nước” và “Nhân dân” là hai phạm trù rất gần gũi, rất thân thiết, có quan hệ máu thịt với nhau, thậm chí không thể tách rời nhau.

Từ hàng ngàn năm rồi, nhiều người đã hiểu như vậy, đã cảm nhận như vậy.

Tôi sẽ không viết được những dòng chữ có vẻ nghịch lý sau đây nếu không sống dưới chế độ “cộng sản”.

Sự kỳ quái của chế độ đó đã đánh thức mọi phản kháng trong tư duy, làm chúng ta vỡ mộng và vỡ luôn những nếp nghĩ khác.

Và một trong những phát hiện bàng hoàng nhất là: Đất nước và Nhân dân là hai thực thể có khả năng trở thành thù địch.

1

Từ thuở bé, con người đã gắn liền với đất nước mình qua lũy tre làng, dòng sông, bến đò, những bờ biển thơ mộng, những núi non hùng vĩ, những danh lam thắng cảnh…tất cả, góp phần tạo ra tâm hồn, tính cách và tình yêu của mỗi người, từ đó hình thành những mối dây ràng buộc, nhờ thế mà khi có ngoại xâm thì cả dân tộc cùng đứng lên, đồng lòng đánh đuổi chúng, giành lại từng tấc đất, từng ngọn rau…

Đó là những điều có thật. Đã từng xảy ra. Những tấm lòng yêu nước, những hy sinh vì tổ quốc, những anh hùng dân tộc… tất cả đều có thật

Duy chỉ một điều nghịch lý, đó là: trong lịch sử nhân loại CHƯA BAO GIỜ ĐẤT NƯỚC LÀ CỦA NHÂN DÂN.

Ngày xưa, khi vua Vũ diệt được Trụ, dựng nên nhà Chu, thiên hạ ai cũng tôn phù.

Chỉ có Bá Di, Thúc Tề chê là bất nghĩa, không thèm ăn thóc nhà Chu, cùng nhau lên núi Thú Dương, hái rau độ nhật.

Sau, có người đến bảo: “Nhà Chu đã trị thiên hạ, thì nơi nào lại chẳng phải của nhà Chu, ăn rau núi này chẳng phải ăn rau nhà Chu ư?”

Hai ông nghe nói, bèn nhịn đói cho đến chết.

Rõ ràng thời ấy người ta quan niệm sông núi, kể cả rau rừng đều “của nhà Chu” nào phải của nhân dân.

Ngay cả hạt thóc là do mồ hôi nước mắt của nông dân làm nên mà cũng được gọi là “thóc nhà Chu” thì nhân dân còn lại gì?

Trong bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”, Lý Thường Kiệt cũng xem đất nước Việt Nam là của vua chúa nhà Lý khi ông viết: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thì thật sự cũng đã “xí phần” cho triều đình hết rồi, còn gì cho đám dân đen nữa?!

Thời phong kiến, đất nước là của nhà vua nên mới có cha truyền con nối, nên trung quân và ái quốc mới gộp làm một.

2

Ngày nay người ta nói nhiều đến dân chủ.

Có vẻ như đất nước không còn là của “nhà Chu” nữa, có vẻ như “Nam quốc sơn hà” không còn của “Nam đế” nữa.

Vậy chắc là của nhân dân rồi!

Thử xem có phải vậy không?

Nếu cái đất nước giàu tài nguyên này, cái quê hương “rừng vàng biển bạc” này là của nhân dân, sao nhân dân nghèo khổ đến vậy?

Sao những chàng trai nông thôn chân lấm tay bùn vẫn ở nhà tranh vách đất?

Sao những cô gái quê phải lên thành phố bán thân?

Sao bác phu xích lô vẫn còng lưng đạp mỗi ngày, sao lớp trẻ con nhà lao động phải nhễ nhại mồ hôi trong các khu chế xuất, các mỏ than, các nhà máy chế biến hải sản, lâm sản, nông sản…chỉ để kiếm chưa đến một trăm đô la mỗi tháng?

Sao nhân dân lao động vẫn phải chui rúc trong những căn nhà tồi tàn chật hẹp?

Nếu rừng là vàng, biển là bạc thì vàng ở đâu, bạc đi đâu, mà mỗi lần làm đường, xây cầu lại phải vay vốn ODA, vay vốn Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Thế giới… để xảy ra những vụ tham nhũng nhục nhã như PMU18, như vụ cầu Văn Thánh, như vụ PCI Nhật Bản…và hàng ngàn vụ khác?

Nếu đất nước này là của nhân dân thì sao dầu mỏ khai thác nhiều như vậy mà dân không giàu? mà Đảng lại giàu?

Nếu đất nước là của nhân dân sao lại chỉ có một nhúm các tập đoan tài phiệt phất lên nhờ kinh doanh rừng, biển, đất đai và lúa gạo… trong khi nhân dân thì bị cướp đất, rừng thì bị phá, thóc lúa thì bị thương lái ép giá, đẩy nông dân vào kiếp sống bần cùng?

3

Có quá nhiều bằng chứng để nói rằng trong lịch sử chưa bao giờ đất nước là của nhân dân.

Đất nước chỉ là của nhân dân trong các học thuyết, trong văn thơ, trong âm nhạc.

Đất nước chỉ là của nhân dân trong hoài niệm tuổi thơ, trong tâm tình chôn nhau cắt rún.

Trên thực tế đất nước bao giờ cũng là tài sản riêng của giai cấp cầm quyền.

Ngày xưa thì đất nước là của vua chúa, ngày nay đất nước là của các chính quyền.

Còn nhân dân?

Ngoại trừ số ít giàu có ở các đô thị lớn, đại đa số nhân dân lao động, công nhân, nông dân, công chức, tư chức ăn lương…chỉ có được một căn nhà nhỏ, một mái tranh nghèo, một cái ổ chuột tối tăm trong xóm lao động hay dưới gầm cầu.

Những nhà hàng, những khách sạn sang trọng, những vũ trường xa hoa, những cửa hàng lộng lẫy kia không phải của nhân dân.

Những khu đô thị mới, những resorts, những sân golf, những câu lạc bộ quần vợt, những cuộc thi hoa hậu liên miên kia… không bao giờ là của nhân dân.

Những mỏ bô-xit, mỏ than, mỏ dầu trị giá hàng ngàn tỉ đô la kia, những lâm sản, hải sản vô tận kia…chưa bao giờ là của nhân dân.

Nhân dân chỉ có cái tổ chim bé nhỏ của mình, nhân dân chỉ có vại cà, con mắm, củ khoai, rẫy bắp, chiếc xích lô đạp, chiếc xe máy để chạy xe ôm, để đi làm mỗi ngày.

Nhân dân không biết nghe nhạc giao hưởng, không biết hát Opera, nhân dân chỉ biết rao: “Cháo huyết đây!” Bánh mì nóng giòn đây!” Báo mới đây!” “Mài dao mài kéo đây!”…

Nhân dân không có vé vào xem thi hoa hậu hoàn vũ hay xem trình diễn thời trang, nhân dân chỉ có năm ngàn đồng đủ trả một cuốc xe ra đứng đầu đường Huyền Trân Công Chúa và gọi: “Đi chơi không anh?”.

Nhân dân không có ai bảo vệ, chỉ biết chạy trối chết khi bị công an đem xe tới xúc về đồn để “làm sạch thành phố.”

Trong thời chiến, bao giờ nhân dân cũng bị xem như một thứ “tài nguyên”, một “nguồn cơ bắp dồi dào” sẵng sàng cung cấp cho chiến trường để giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh mang danh nghĩa “giải phóng” “chống ngoại xâm” “thánh chiến” “vệ quốc”…

Tội nghiệp cho hàng trăm thế hệ những người lính đã ngã xuống trong các cuộc “chiến tranh thần thánh” ấy để rồi cuối cùng đất nước lại lọt vào tay một nhúm “đồng hương” chuyên nghề vơ vét.

Đất nước đã bị cưỡng đoạt.

Giờ đây, đối với nhân dân Việt Nam, nếu đất nước có còn được chút ý nghĩa, chính là vì nó đang ôm giữ trong lòng nó xương cốt của những người thân đã chết vì một lý tưởng hoang đường và một ước mơ không bao giờ có thật.

4

Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa, rồi Trường Sa.

Vài trăm người biểu tình bị đàn áp, bị bắt, bị đe dọa.

Nhiều người hỏi tôi: “Sao không thấy ông viết về Hoàng Sa, Trường Sa mà chỉ viết về nhân quyền, về dân chủ?”

Chẳng lẽ tôi lại phải trả lời như thế này:

“Vì hai hòn đảo ấy người ta đã dâng cho Tàu rồi. Ai đòi lại được? Mà nếu như có đòi được thì cái lãnh thổ giàu tài nguyên ấy cũng đâu phải của nhân dân. Hai hòn đảo ấy cũng sẽ là tài sản của những kẻ cầm quyền và bọn tài phiệt, cũng sẽ bị chúng chia chác nhau mà ăn thôi.”

Về tác giả:Nhà văn Đào Hiếu, sinh năm 1946 ở tỉnh Bình Định, gia nhập Đảng Cộng sản năm 1968. Tham gia phong trào sinh viên miền Nam chống Mỹ, ông sau năm 1975 làm việc tại báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ TP. HCM. Năm 2008, ông công bố trên mạng hồi ký Lạc Đường, gây nhiều tranh luận.

 

Hồ Chí Minh có ngưới yêu bị thảm sát

January 22, 2009

 trích từ  AFP Asian edition

“Dissident writer reveals Ho Chi Minh’s tragic love secret

AFP
January 20, 2009 19:00 ET

 

An incendiary novel by Vietnam’s most popular dissident writer takes on the mythical figure of Ho Chi Minh, claiming the “Father of the Nation” had a secret lover half his age — and that she was raped and murdered by his own Communist comrades.

Interviewed in Paris, where she lives in exile and where the book was released this month, 61-year-old Duong Thu Huong claims the Vietnamese regime has suppressed the story of the national hero’s twilight years.

Like her previous works “The Zenith” — which casts Ho Chi Minh as “The President” — is banned from Vietnamese bookshops, but it has been released on the Internet, drawing close to 100,000 readers and wide critical interest.

Based on 15 years of research, Huong claims the ageing leader fell in love in the 1950s with a woman 40 years his junior, who bore him two children and was assassinated in 1957 at the party’s orders to stop them from marrying.

“His companions were terrified it would damage his saint-like image,” Huong told AFP.

“In the West, people worship youth. But in Asia, it is the opposite, we venerate old people. He was not allowed to be a lover and a husband, to waste his energy with a woman of flesh and blood.”

Huong claims his young lover, Xuan, was clubbed to death and her body dumped on a road to disguise the murder as a traffic accident, and that party officials erased all trace of the romance from the public record.

Ho Chi Minh carried the secret of her death to the grave, Huong claims, when he died in September 1969 on the anniversary of Vietnamese independence.

He was nearly 80 years old, weak and ill, when, according to the writer, he hastened his own death by pulling out an intravenous drip from his body on September 2, choosing the symbolic date in a final act of defiance against the Party, to “cast a curse on the corrupt regime.”

“His criminal comrades understood that he chose the date to signify the coming destruction of the regime. So they falsified the facts and dated his death September 3,” she said.

One of the 20th-century’s most influential Communist leaders, Ho Chi Minh steered the Vietnamese nationalist movement for close to three decades and was president of North Vietnam from 1945 until his death.

Huong admits taking liberties with historical fact in her tale of thwarted love, political intrigue and treachery, but she stands by the account of Ho Chi Minh’s murdered companion and the circumstances of his death.

“The people must understand. They have been manipulated, humiliated, and deceived by their leaders,” she said.

A former hero of the Vietnam war who turned against the Communist regime in the 1980s, Huong was imprisoned for eight months for her writings in 1991, and finally left the country in 2006 for a life in exile in Paris.

“I was forced to live with the outcasts and the lepers. I was no longer the darling child of the Party,” she said. “I became the enemy of the people who gets insulted, who gets called an old whore.”

Huong insists she has no interest in politics but she describes herself as pro-democracy activist, and the Internet as a “weapon for democracy.”

She dedicates her latest book to a friend and fellow dissident writer, Luu Quang Vu, who she claims died along with his poet wife and son in a fake car accident staged by the Vietnamese authorities in 1988.

“Everyone knew the truth. Everyone lived under the shadow of this falsified history. But the intelligentisia looked the other way, they bowed their heads, out of cowardice,” she charged.

Currently being translated into English, “The Zenith” is set to be published in the United States next year.